I. Khám phá các “kho báu” cổ vật trong kinh thành Huế

Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.

Theo TS.Phan Thanh Hải, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, ngay từ thế kỷ XVIII, giới quý tộc Huế đã có thú sưu tầm đồ cổ và mua sắm các vật dụng quý giá làm của riêng. Trong tác phẩm “Phủ biên tạp lục”, Lê Quý Đôn đã ghi chép về đời sống xa hoa và sự giàu có của quý tộc Huế như sau:

“Thuận Hóa được bình yên đã lâu, công tư đều dồi dào, mặc dùng tươi đẹp, lại trải qua thời Nguyễn Phúc Khoát hào phóng bắt chược nhau, làm thành thói quen, quan viên lớn nhỏ không ai không dùng nhà cửa chạm gọt, tường vách gạch đá, the màn trướng đoạn, đồ đạc đồng thau, bàn ghế gỗ đàn gỗ trắc, chén mâm đồ sứ đồ hoa, yên cương vàng bạc, y phục gấm vóc, chiếu đệm mây hoa, đua nhau khoe đẹp”.

Đến khi trở thành kinh đô của cả nước thống nhất thì Huế càng trở thành nơi tập trung của báu vật. Ngoài các loại vàng bạc ngọc ngà trong kho tàng hoàng gia còn có rất nhiều thứ quý giá thuộc về giới quý tộc, quan lại, thương nhân… sống tại kinh đô.

Toàn cảnh Tử Cấm Thành trong Kinh thành Huế chụp bằng không ảnh lúc xưa, khi mà chiến tranh chưa tàn phá một số công trình quan trọng ở đây (ảnh: internet)

 

“Mục sở thị” cổ vật cung đình Huế cách đây hơn 100 năm trước

Theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An, thuở vàng son triều Nguyễn (1802-1945), nội thất các cung điện và đền miếu ở kinh thành cũng như các lăng tẩm đều được trang hoàng, trang trí và tàng trữ rất nhiều của quý vật lạ có giá trị nhất nước. Một cách hay nhất minh chứng điều đó là trưng dẫn những nhận xét và đánh giá về cổ vật cung đình Huế dưới nhãn quan của một số người đã từng “mục sở thị”.

Từng làm việc lâu năm tại xứ thuộc địa, Robert R.de la Susse, một quan chức Pháp hiểu biết sâu sắc và yêu mến nền văn hóa Việt. Trong một dịp tham quan Hoàng cung Huế vào những năm đầu thập niên 1910, khi được xem cổ vật ở điện Cần Chánh và điện Phụng Tiên, sự phong phú và đa dạng khiến ông gọi đây là những “bảo tàng”.

Trong một cuốn sách mang tên “Guide de l’Annam” (Hướng dẫn du lịch Trung Kỳ) xuất bản tại Pháp năm 1914 của Philippe Eberhartd, vị thầy phụ đạo cho vua Duy Tân tỏ ra đồng tình hoàn toàn với tác giả Robert về số lượng và chất lượng của các bảo vật trong Hoàng cung Huế, nơi mà ông hay lui tới trong thời gian làm việc tại Kinh đô triều Nguyễn.

Robert R.de la Susse đã mô tả tại điện Cần Chánh: “Ngôi điện rộng mênh mông này là ngôi điện đẹp nhất trong Hoàng cung. Các cột trụ, các bức vách và nhất là các trần nhà toàn làm bằng gỗ lim nguyên khối được chạm trổ và khảm cẩn xà cừ cùng ngà voi. Ở các phía nội thất ngôi điện đặt 6 tủ đứng bằng gỗ chạm trổ chứa đựng những vật quý nhất trong vương quốc, giá trị vô lượng: Những bảo ấn bằng vàng khối, trong đó có một cái nặng 18kg; những lá cờ hiệu bằng lụa của các tùy tướng vua Gia Long có từ hồi vua thu phục sơn hà; những đồ ngọc quý báu đặc biệt…”

 

Một buổi thiết triều giữa vua và các quan tại điện Cần Chánh. Ngôi điện này giờ chỉ còn nền móng do bị bom đạn phá hủy (ảnh: internet)

Các cổ vật tại điện Cần Chánh (ảnh: blog Ngoan Công Trương)

 

Ở điện Phụng Tiên: “Bảo tàng này chứa nhiều nhất là những đồ bằng ngọc thạch. Người ta thấy ở đây có rất nhiều độc bình, tách uống nước, chén ăn, những bộ đồ trà, bút nghiên, những món đồ đủ loại và đủ hình dạng bằng ngọc thạch màu trắng, màu xanh, màu xám, có vân, không vân, được mài dũa, đôi khi được chạm lọng một cách tinh xảo.

Những chậu lung đựng những “cây vàng”, cành bằng san hô và ngọc bích, lá, hoa và trái bằng ngọc bích, bằng vàng, bằng các thứ đá quý hoặc ngọc trai. Những cây này đáng quan sát tỉ mỉ vì ngoài giá trị của chúng, các chi tiết thường là mỹ diệu.

Về các bảo vật bằng vàng thì nhiều nhất là Kim Bửu và Kim Sách. Loại thứ nhất gồm những ấn của các vua, những công ấn bằng vàng khối, mỗi cái nặng từ 3 đến 4kg. Những chiếc ấn khác bằng bạc mạ vàng là của các bà hoàng hậu ngự trị… Các quyển “Kim Sách” thì gồm những tờ giấy bằng vàng ròng.

Người ta cũng có thể thấy những cái lồng ấp, những bình trà, những miếng che tay nơi cán gươm bằng vàng khối nguyên chất, người An Nam chỉ ưa thích những quý kim này nếu không có sự pha trộn nào. Cũng nên lưu ý đến cái vương miệng dệt bằng vàng của vua Tự Đức, cái đai của Ngài được khảm nổi bằng ngọc thạch, san hô, ngọc trai và khép lại nơi một viên kim cương lớn; một loạt đồ bằng thạch anh rất đẹp, nhiều cán gươm bằng sừng tê giác…”

 

Nội thất điện Phụng Tiên lúc xưa (ảnh: internet)

 

Điện Phụng Tiên nay giờ chỉ còn cổng Tam quan (ảnh: blog Thanh Nhan Tran)

 

Theo tác giả Philippe Eberhartd thì thực tế tại nhà Tả Vu và Hữu Vu có nhiều đồ ngự dụng và trang trí quý hiếm. Như hai độc bình lớn thuộc loại men lam Huế và ba cái tủ chạm và khảm cẩn xà cừ tuyệt đẹp; các bộ triều phục, mão trang sức bằng ngọc thạch; nhiều đồ trang trí do các quốc gia tặng…

Những báu vật quý nhất tại điện Càn Thành

Nhìn chung các bảo vật ở các điện trên tuy đã được nhận định là quý báu, đa dạng và phong phú nhưng đó chưa phải là tất cả những di sản thuộc loại quốc bảo trong toàn bộ hệ thống cung điện Huế vì có một số cung điện và kho tàng khác mà hai tác giả trên chưa được phép đặt chân đến như điện Càn Thành (nơi vua ở) – tọa lạc tại trung tâm điểm của Tử Cấm Thành. Ngoài chức năng đó, ngôi điện này còn là nơi tàng trữ những bảo vật cao nhất về lịch sử và văn hóa nhà Nguyễn.

Trong Nội các triều Nguyễn tập 14 đã từng mô tả bản dịch của Viện Sử học ở đoạn ghi lời dụ của vua Minh Mạng về quy chế cất giữ bảo vật tại điện này như Bảo Tỷ – khí cụ quan trọng nhà nước, Kim Sách, Kim Bài, Phù Tín.

Các ấn vàng thời vua Nguyễn

 

Một nhân chứng người Pháp khác là Paul Boudet (nhà Lưu trữ – Cổ tự học) làm phụ trách ngành lưu trữ và thư viện tại Đông Dương, vào khoảng năm 1942 đã may mắn được Nam triều cho hưởng một ân huệ đặc biệt là có thể tiếp cận với tất cả các thư viện và kho lưu trữ tại Kinh đô Huế, kể cả kho tàng nói trên ở điện Càn Thành. Vua Bảo Đại đã cho phép ông tìm hiểu, kê cứu tất cả các bảo vật được cất giữ ở ngôi điện này. Các món đồ quý được di chuyển ra khỏi tủ, khỏi hòm, khỏi hộp để ông đọc, ghi chép, chụp ảnh.

Theo một bài viết khá dài và có giá trị học thuật rất cao của ông, Paul Boudet đã cho chúng ta biết rằng bấy giờ chỉ riêng ở điện Càn Thành đã có đến 26 quyển Kim Sách liên quan đến những dịp lễ đăng quang của các vua Gia Long, Thiệu Trị, Tự Đức, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định và những dịp lễ tuyên phong của các Hoàng hậu, Hoàng thái tử. Cũng tại ngôi điện này, ông đã liệt kê được 46 cái ấn bằng ngọc và bằng vàng của các Hoàng đế và Hoàng hậu.

Những báu vật quý nhất được xem được để tại điện Càn Thành. Đến nay ngôi điện cực đẹp này cũng không còn do bom đạn chiến tranh đã phá hủy sau năm 1945 (ảnh: internet)

“Ngoài tư liệu khả tín ấy ra, chúng tôi cũng may mắn đang có được trong tay nguyên bản một quyển “Thủ sách” bằng chữ Hán viết tay được Viện Cơ Mật thực hiện trong dịp lễ “Phất thức” (còn gọi là ngày “Phong ấn” vào cuối năm Bảo Đại nguyên niên 1926). Viện đã liệt kê hàng trăm của báu bấy giờ được lưu trữ tại điện Càn Thành, bao gồm những ấn bằng vàng, bằng ngọc, những sách bằng vàng, bằng bạc và những bảo vật thuộc các loại chất liệu khác. Hy vọng khi nào có điều kiện và cơ hội tốt, chúng tôi sẽ biên dịch toàn bộ và công bố để mọi người tham khảo” – nhà nghiên cứu Phan Thuận An tiết lộ.

Kho cất giữ vàng, bạc, đồ quý thời vua Nguyễn

Đi tham quan Kinh thành Huế nhưng ít ai biết nơi cất giữ nhiều đồ quý từ các địa phương dâng hiến nằm chỗ nào. Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoa, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa và Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế đã “giải mã” vấn đề này một cách rất chi tiết.

Theo ông Hoa, Phủ Nội Vụ trong cung vua Nguyễn là nơi quản lý (cất giữ, chế tác, nghiệm thu, dâng tiến, cấp phát…) các loại vàng bạc, châu ngọc, gấm vóc, tiền bạc và vật dụng quý, phục vụ cho sinh hoạt của hoàng gia và triều đình. Đây là một cơ sở hậu cần trực tiếp của nhà vua, đồng thời là một dạng ngân khố của nhà nước quân chủ cuối cùng ở Việt Nam.

Từ thời vua đầu tiên Gia Long đã thành lập Phủ với 6 kho. Đến đời vua Minh Mạng trở đi được nâng lên con số 10 kho gồm kho vàng bạc (giữ các phiến đỉnh và đồ vật bằng vàng bạc), kho gấm đoạn ( kho sa lĩnh, kho lụa nam, kho đồ sứ, kho dược phẩm, kho dầu nến, kho quần áo, kho pha lê, kho đồ làm trò (diễn tuồng, tấu nhạc, múa hát).

Khi chuyển về địa điểm mới và hiện tại bây giờ, Phủ Nội Vụ (gần cửa Hiển Nhơn) đã được vua Minh Mạng giao tổ chức nấu đúc các đĩnh bạc, đồng thời vua cho “xây hầm chứa bạc ở kho vàng trong phủ chứa 200.000 lạng bạc, cứ 1.000 lạng bạc chứa vào 1 hòm”. Các năm sau lần lượt tổ chức đúc mẫu vàng “Việt Nam nguyên bảo” loại 100 lạng, 50 lạng, vàng “Tân thức lưỡng đĩnh nhất bách đĩnh”.

 

Phủ Nội Vụ hiện tại đang để trống

Quốc Sử Quán triểu Nguyễn cho biết tại Phủ Nội Vụ vào năm 1885 ở tầng dưới cất giữ 91.424 thỏi bạc đĩnh 10 lạng, 78.960 thỏi bạc đĩnh 1 lạng; tầng trên cất giữ khoảng 500 lạng vàng, khoảng 700.000 lạng bạc. Ngoài ra còn có một số kho nhỏ trong Hoàng thành cũng như thời vua Minh Mạng, Thiệu Trị đã cho đào chôn nhiều bạc tại Đại Nội.

 

II. Huế đã mất lượng cổ vật lớn như thế nào?

Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.

“Thất thủ kinh đô” và lần mất cổ vật gần như lớn nhất

Qua các biến cố lớn trong lịch sử, tiêu biểu nhất là các đợt chiến tranh đã làm cho cổ vật cung đình tại Huế bị mất mát rất lớn. Theo TS. Phan Thanh Hải, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, nhiều cổ vật ấy hiện đang ở trong các bộ sưu tập lớn của các tổ chức chính phủ, tư nhân trong và ngoài nước hoặc đã “bặt vô âm tín” không ai hay. Căn cứ vào tư liệu lịch sử, những đợt mất mát lớn của Huế đã từng xảy ra không ít lần, tiêu biểu vào các năm 1775, 1862, 1885, 1945, 1947, 1972…

Năm 1775, quân đội Lê – Trịnh do quận công Hoàng Ngũ Phúc tấn công và chiếm giữ Thuận Hóa – đô thành của chúa Nguyễn. Sau khi chiếm đóng, đội quân này đã mặc sức vơ vét của cải trong kho tàng hoàng gia và gia đình quý tộc, quan lại triều đình.

Năm 1862, sau khi để mất 3 tỉnh miền Đông Nam bộ vào tay thực dân Pháp, vua Nguyễn phải huy động rất nhiều vàng bạc và cổ vật trong kho tàng của mình để đền trả số chiến phí mà Pháp đòi là 4 triệu piastre (quy đổi thành hơn 2,8 triệu lượng bạc).

Nhiều tư liệu cho biết nhà vua đã phải lấy rất nhiều đồ vật quý chế tác bằng vàng ngọc, thậm chí tận thu những kim ấn, kim sách của hoàng tử, công chúa, thân vương; các tư trang bằng vàng, bạc của cung phi để trả nợ. Vì lý do này, phần lớn cổ vật chế tác bằng vàng bạc của Huế trở nên khan hiếm, thậm chí cả cây lá ngọc cành vàng trong cung điện, lăng tẩm, miếu đền của triều Nguyễn cũng đã bị thay bằng loại lá ngọc cành gỗ nhũ vàng.

Gian thiết triều tại điện Cần Chánh. Có nhiều chậu sứ quý trong cắm các cây “cành vàng lá ngọc” (ảnh: blog Ngoan Trương Công).

1 trong 3 bộ cây “cành vàng lá ngọc” còn lại hiếm hoi tại Huế thuộc sở hữu của nghệ nhân thêu Lê Văn Kinh (ảnh: Thế Nam).

TS. Hải cho biết, những vụ mất mát lớn nhất của Huế trong lịch sử gắn liền với sự kiện “Thất thủ kinh đô”. Ngày 5/7/1885 (23/5 năm Ất Dậu), khi tấn công vào kinh đô Huế, quân đội Pháp đã cướp bóc, đốt phá và giết hại người dân một cách vô cùng dã man. Trong sự kiện đẫm máu này, không chỉ hàng vạn người bị giết hại mà Huế còn bị cướp đi phần lớn những gì quý báu nhất.

Linh mục Père Siefert, người chứng kiến sự kiện thảm khốc này đã ghi lại: “Kho tàng trong hoàng cung đã mất đi gần 24 triệu quan vàng và bạc… Cuộc cướp cạn ấy kéo dài trong 2 tháng còn gây tai tiếng hơn cuộc cướp phá Cung điện Mùa Hè của Thanh Đế ở Bắc Kinh”.

Quân Pháp đánh chiếm Kinh thành Huế năm 1885 (tranh tư liệu của Pháp. (Nguồn internet)

 

Cũng theo Père Siefert, khi đối chiếu với bảng kiểm kê tài sản của hoàng gia lập trước ngày 5/7/1885 với những gì đã mất, thì quân Pháp đã cướp: “228 viên kim cương, 266 món nữ trang có nạm kim cương, hạt trai, hạt ngọc, 271 đồ bằng vàng trong cung của bà Từ Dũ. Tại các tôn miếu thờ các vua… thì hầu hết các thứ có thể mang đi… đều bị cướp”

Ngay bản thân tướng De Courcy, người chỉ huy cuộc tấn công vào kinh đô Huế ngày 24/7/1885 (tức 20 ngày sau khi khởi đầu cuộc tấn công) đã gửi cho chính phủ Pháp một bức điện với nội dung sau: “Trị giá phỏng chừng các quý vật bằng vàng hay bằng bạc dấu kỹ trong các hầm kín là 9 triệu quan. Đã khám phá thêm nhiều ấn tín và kim sách đáng giá bạc triệu. Xúc tiến rất khó khăn việc tập trung những kho tàng mỹ thuật. Cần cử sang đây một chiếc tàu cùng nhiều nhân viên thành thạo để mang về mọi thứ cùng với kho tàng”.

Một số cung điện tại Huế đã gần như “sạch trơn” sau khi Pháp chiếm Kinh thành (Ảnh: internet).

 

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoa, Quốc Sử quán triều Nguyễn ghi: riêng tại Phủ Nội Vụ ở tầng dưới cất giữ 91.424 thỏi bạc đỉnh 10 lạng, 78.960 thỏi bạc đỉnh 1 lạng; tầng trên cất giữ khoảng 500 lạng vàng, khoảng 700.000 lạng bạc; kho gần cửa Thọ Chỉ cất giữ 898 lạng vàng, 3.400 lạng bạc; toàn bộ số vàng bạc này đã bị mất khi Pháp chiếm kinh thành.

 

Phủ Nội Vụ bị mất hết vàng bạc khi Pháp chiếm Kinh thành.

 

Song song với đó, một phần của cải “có lẽ cũng không nhỏ” đã được phe chủ chiến của nhà vua đứng đầu là Tôn Thất Thuyết đã cho đem ra chiến khu Tân Sở – Quảng Trị để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Số vàng bạc ngân lượng này về sau cũng thất tán hoàn toàn.

Nhưng trong quá trình quân Pháp truy đuổi Tôn Thất Thuyết từ tháng 7/1885, tỉnh Quảng Trị đã thu giữ 34 hòm bạc chứa 36.557 tiền bạc và 6 hòm bạc do ông Thuyết chưa kịp mang đi chứa 196 thỏi bạc, mỗi thỏi 10 lạng và 18.696 tiền bạc.. tất cả hòm bạc này khi đệ nạp về kinh đã bị quân Pháp giữ.

Trong quá trình quản lý, tòa Khâm sứ Trung Kỳ của Pháp nắm rất rõ kho vàng bạc trong kinh thành Huế. Tháng 6/1899, Pháp đã phái đại diện cùng thượng thư bộ Công, bộ Lễ đào tìm, phát hiện một gầm bạc. Dưới thời vua Duy Tân năm 1915 đào được hai lần tại cửa Tường Loan. Lần một được 60 hòm gỗ chứa 10.000 hốt bạc và lần hai được 70 hòm gỗ chứa 10.000 hốt bạc thỏi.

Dưới sự quản lý rất chặt chẽ của Pháp, nhiều lần đã đào lấy vàng bạc trong Kinh thành để dùng vào nhiều mục đích có lợi cho riêng mình (ảnh: internet).

 

Các số bạc này phần lớn Pháp “chỉ đạo” triều đình nộp ở ngân hàng Thượng Hải (chi nhánh ngân hàng Đông Dương) để lấy lãi hàng năm cho triều đình, mua trái phiếu quân dụng ủng hộ Pháp trong chiến tranh thế giới thứ nhất hay chuyển tiền triều đình đã gửi ở ngân hàng Đông Dương góp vốn với 1 công ty do người Pháp làm chủ để thành lập thương cục mới. “Từ đó đến nay, chưa ai rõ việc góp vốn này đưa đến kết quả ra sao? Có chăng gần như triều đình Việt Nam đã mất trắng” – ông Hoa nhận định.

Kho báu vẫn còn và việc mất tiếp diễn

Tuy bị mất mát nhiều những báu vật và của cải do họa mất nước, nhưng triều Nguyễn vẫn giữ lại được một phần báu vật rất có giá trị. Hầu hết các báu vật này là Kim Bảo, Ngọc Tỷ gắn với các đời hoàng đế, hoàng hậu, và các đồ “ngự dụng” vốn gắn liền với cuộc sống của họ, sau được dùng như những vật thờ tự.

Tháng 8/1945 khi Bảo Đại – vị hoàng đế cuối cùng thoái vị, triều Nguyễn đã bàn giao hầu hết các báu vật còn lại của vương triều cho chính phủ Cách mạng lâm thời, trong đó có cả bộ ấn kiếm tượng trưng cho quyền lực của hoàng đế. Toàn bộ số của cải này gồm gần 3.000 món, được đem ra Hà Nội và được bảo quản đặc biệt qua 2 cuộc kháng chiến của dân tộc.

Duy chỉ có điều đáng tiếc là bộ ấn kiếm tượng trưng cho quyền lực của hoàng đế gồm kim ấn Hoàng đế chi bảo nặng gần 10,5kg và chiếc kiếm chuôi vàng nạm ngọc, do sơ suất trong việc bảo vệ nên chúng ta để lọt vào tay người Pháp. Năm 1952, người Pháp đã tổ chức một buổi lễ “trang trọng” tại Đà Lạt để trao lại ấn kiếm cho Quốc trưởng Bảo Đại. Bộ ấn kiếm này về sau được hoàng hậu Nam Phương mang qua Pháp và gửi tại ngân hàng Châu Âu.

Đại diện chính phủ Pháp trao lại ấn, kiếm cho Quốc trưởng Bảo Đại năm 1952 tại Đà Lạt. Hiện bộ ấn kiếm tượng trưng cho quyền lực của triều đại phong kiến cuối cùng này không có tại Việt Nam.

 

Về những cổ vật được bảo quản, trưng bày tại Tàng Cổ Viện (sau năm 1958 là Bảo tàng Huế) cũng bị thất thoát ít nhiều trong thời gian từ 1945-1975. Có những cổ vật rất quý như chiếc nghiên mực Tức Mạc Hầu của vua Tự Đức đã bị lấy làm tài sản riêng của Ngô Đình Diệm, rồi không cánh mà bay sau khi chính quyền Diệm bị lật đổ.

Nghiên mực quý Tức Mạc Hầu của vua Tự Đức bị mất sau khi Ngô Đình Diệm lấy và đến nay không còn tung tích gì.

Một sự thất thất thoát đáng kể khác đã xảy ra vào trong năm 1972 do việc đưa cổ vật vào Sài Gòn…

“Cũng cần nói rằng có không ít cổ vật quý hiếm của Huế đã được đưa đi nơi khác do chủ nhân của chúng (đa số là các gia đình quý tộc cũ) di chuyển nơi ở hoặc bán đi do hoàn cảnh khó khăn. Một số nhà sưu tầm cổ vật tại miền Nam lúc bấy giờ đã có được rất nhiều cổ vật có giá trị từ Huế.

Sau này, một dạng thất thoát đáng nói khác là những cổ vật do người dân tình cờ phát hiện nhưng không báo với chính quyền mà bán cho những người buôn bán phế liệu hoặc buôn bán cổ vật. Hầu hết những cổ vật này đều “lặng lẽ” ra đi khỏi Huế, số ít khác thì “ở lại” nhưng là trong các sưu tập tư nhân chứ rất hiếm khi vào các bảo tàng nhà nước” – TS Hải cho biết thêm.

Cũng sau năm 1975, đặc biệt trong thập niên 1980, ở tại TP Huế và vùng phụ cận, hàng loạt cổ vật quý lại bị đánh cắp do kẻ gian bất chấp mọi luân thường, đạo lý, đào phá hàng chục lăng mộ của ông hoàng bà chúa để hôi của. Lăng Kiên Thái Vương (thân sinh của 3 vị hoàng đế Đồng Khánh, Hàm Nghi và Kiến Phúc), lăng thái hậu Từ Dũ (thân mẫu vua Tự Đức) và lăng hầu hết các chúa Nguyễn đều bị kẻ gian đào bới, lấy đi rất nhiều đồ tùy táng có giá trị.

Trong các năm 2012, 2013, kẻ gian đã đột nhập đánh cắp cổ vật tại điện Khải Thành – lăng Khải Định, điện Hòa Khiêm – lăng của Tự Đức lấy đi một số cổ vật có giá trị…

Lăng Kiên Thái Vương bị kẻ gian đào lấy đi nhiều cổ vật tùy táng giá trị sau thời điểm năm 1975 (ảnh: internet).

Điện Khải Thành – Lăng vua Khải Định, nơi bị kẻ trộm đột nhập lấy cắp cổ vật.

 

Tác giả : Đại Dương

Nguồn : dantri.com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.