Tổ chức hành chính trung ương thời Nguyễn gồm các hệ thống lục Bộ, lục Tự, chư Nha, Giám sát, trong đó có rất nhiều cơ quan khác nhau. Nội các là một Nha độc lập trực thuộc quyền quản lý của Hoàng Đế. Là văn phòng của Hoàng đế nên Nội các gắn bó mật thiết với ấn triện, thể hiện bằng các loại văn bản giấy tờ quan trọng có đóng nhiều loại dấu ấn khác nhau. Bài viết này xin giới thiệu đôi nét vế ấn triện trong Nội các – cơ quan đặc biệt của Hoàng đế thời Nguyễn.

Tiền thân của Nội các là Tam Nội viện tức văn phòng của Hoàng đế được lập từ năm Gia Long thứ nhất (1802). Chức Thượng Bảo khanh được đặt ra là nơi coi giữ các Bảo Tỷ, ấn triện và chịu trách nhiệm hầu Bảo(1) khi cần thiết. Năm 1820 khi lên ngôi, vua Minh Mệnh đã tinh giảm tổ chức Tam Nội viện đổi làm Văn thư phòng, Văn thư phòng không dùng ấn quan mà dùng Quan phòng chức vụ trong giấy tờ văn bản. Ngay năm này nhà vua đã cho đúc ấn Quan phòng bằng đồng cho Văn thư phòng, núm ấn chạm hình rau tảo, dây đeo mầu đen. Mặt ấn hình chữ nhật, dài 1 tấc ngang 7 phân 2 ly, dày 2 phân 2 ly, khắc 5 chữ Triện “Văn thư phòng quan phòng”.

Xem xét văn bản chữ Hán trong kho châu bản triều Nguyễn, chúng tôi thấy hình dấu “Văn thư phòng quan phòng” đóng trong một bản tấu có niên đại năm Minh Mệnh thứ 7 (1826). Dấu hình chữ nhật, kích thước 3,2×4,2cm, năm chữ Triện chia 3 hàng, chữ “Phòng” ở giữa dài gấp đôi chữ khác đó là năm chữ “văn thư phòng quan phòng” 文 書 防 關 防.

(Là ấn Quan phòng của phòng văn thư(2).

Năm Minh Mệnh thứ 10 (1829) Văn thư phòng được đổi làm Nội các với biên chế lớn hơn và chức năng cũng quan trọng hơn trước. Bốn tào Thượng bảo, Ký chú, Đồ thư, và Biểu bạ được hoàn thiện, trong đó Thượng bảo tào (có từ năm 1821) là nơi coi giữ các loại Bảo Tỷ cùng Quan phòng, ấn, Kiềm, Đồ ký của các nha môn. Những văn bản chữ Hán như các bản thảo chiếu biểu, bản phó dụ, châu dụ cũng được Thượng bảo tào coi giữ. Khi những chiếu chỉ dụ đã được phân định hoặc những bản chương sớ, sách đã được vua xem xét ưng thuận thì Thượng bảo tào cùng với các cơ quan hữu trách họp thống nhất và tiến hành hầu Bảo.

Khi đổi làm Nội các thì ấn Quan phòng cũng được thay đổi, ấn “Văn thư phòng quan phòng” cũ được bộ lễ thu hồi không dùng nữa và thay vào đó là quan phòng mới khắc 8 chữ Triện “Sung biện nội các sự vụ quan phòng”. Trong Châu bản còn lưu giữ một số hình dấu này. Dấu có kích thước 3,2×4,2cm bằng dấu cũ, 8 chữ triện chia ba hàng, hai hàng giữa cao bằng 2/3 mỗi chữ hàng bên(3).

Đây là Quan phòng các chức quan được phong làm công việc Nội các(4). Dấu Quan phòng trên khi đóng trên văn bản được gọi là Quan phòng của người phụng dụ (ở đầu bài) đóng đối diện mỗi tên người (khi có nhiều người phụng dụ ở các cơ quan khác nhau cùng chung một văn bản). Hoặc đóng dưới tên mình (khi chỉ có một người phụng dụ). Đây bản phụng dụ Thiện bản, tức là bản sao thị thực của phiếu nghĩ phụng dụ, ở những bài dụ khi đến khâu “phê phụng” người ta lập thêm một bản sạch sẽ để lưu chiểu nên gọi là “Thiện bản”. Giá trị của bản sao này cao hơn bản thảo vì nó có dấu Quan phòng của người phụng dụ.

Những bản có chữ vua phê thì quan Nội các họp cùng trực quan khác để duyệt, việc thuộc Bộ nào thì Nội các sao ra rồi đóng ấn Quan phòng “Sung biện nội các sự vụ quan phòng” đưa cho Bộ ấy thực hiện. Bản chính Nội các lưu giữ, những bản thảo dụ chỉ vua phê ban xuống, Nội các cùng trực quan phê duyệt và quan Nội các viết ra tập khác. Nếu viết nhầm phải tẩy sửa thì những chỗ sửa đó phải đóng ấn Quan phòng của Nội các. Đời Đồng Khánh sau này, những chỗ sửa chữa đóng dấu kiềm có 2 chữ “Nội các”.

Khi quan Nội các được phê phụng lời chỉ dụ thì sau này cũng phải đóng dấu ấn quan phòng Nội các vào đầu trang trước dòng ghi niên hiệu. Phải ghi tên họ viên Nội các Nha môn ấy trực tiếp hầu duyệt, sau đó giao bản cam kết và Quan phòng ấn triện của Đường quan ấy lưu tại Nội các tâu lại viết rõ rồi đóng ấn Quan phòng của Nha môn và cả Nội các vào các văn bản đó.

Những tập tấu hoặc sắc văn có Châu phê, Châu cải, Châu khuyên hoặc Châu điểm thì Nội các lấy ngay bản phụ ấy, hoặc giấy khác viết theo đúng mẫu trên. Phần cuối viết rõ chữ “Nội các kính sao” rồi đóng ấn Quan phòng “Sung biện Nội các sự vụ quan phòng” và phát xuống trực ty tuân nhận. Những bản sao lại rồi viết rõ năm tháng ngày truy sao và ký tên đóng ấn Quan phòng Nội các làm bằng cứ đối chiếu.

Tất cả những văn bản phải đóng ấn Bảo, Tỷ đều được Nội các cùng trực quan, lục bộ, khoa đạo thực hiện hết sức nghiêm cẩn, phạm dù lỗi nhẹ cũng bị tội. Năm Minh Mệnh 20 (1839) chỉ vì giấy niêm vàng phiếu nghĩ bộ Binh chưa được Châu điểm mà bộ, ty không xem xét kỹ đã vội chuyển cho Nội các đóng ấn kim Bảo. Lỗi bị phát hiện lập tức chức Đãi chiếu ở Nội các và các viên Tư vụ thư lại ở bộ Binh đều bị phạt 100 trượng và cách bãi. Viên Nội các trực cùng khoa đạo thời điểm đó bị giáng một cấp, Đường quan bộ Binh chính tay phê phụng và trực thần Nội các đều bị giáng 3 cấp.

Xem xét những tập tiếp theo ở Châu bản triều Nguyễn từ cuối Thiệu Trị 4 (1844) trở đi, chúng tôi phát hiện thấy dấu quan phòng “Sung biện nội các sự vụ quan phòng” có sự thay đổi. Về kích thước, nội dung, bố cục và loại chữ của dấu không thay đổi, nhưng cách viết chữ Triện của 2 dấu ở hai thời kỳ trên hoàn toàn khác nhau về kiểu chữ.

Sách chính sử có ghi về vấn đề này. Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) nhà Nguyễn lại có sự cải tổ đối với Nội các. Thượng bảo tào được đổi làm Thượng bảo sở, ấn Quan phòng “Sung biện nội các sự vụ quan phòng” cũng được khắc lại với hình thức, nội dung như cũ, chỉ khác về kiểu nét chữ Triện. Cuộc cải tổ này mặc dù đúng theo nguyên tắc cũ nhưng chức năng của Nội các với những việc được phân chia rõ rệt hơn trước, hình dấu “Sung biện nội các sự vụ quan phòng” đánh dấu cho cuộc cải tổ này.

Chức năng của Thượng bảo sở có trọng trách hơn Thượng bảo tào. Phụng giữ chiếu, chỉ, châu thư, kim phượng đồng, kim ngọc Bảo Tỷ, ấn kiềm, Quan phòng, Đồ ký, Kiềm ký của Nội các và các nha môn trong kinh ngoài tỉnh, phụ trách viết chiếu dụ để hầu Bảo, và nhiều việc khác.

Cùng với lục Bộ và Khoa đạo, Nội các đóng vai trò quan trọng của bộ ba thực hiện chức năng văn phòng của Hoàng đế. Việc hầu Bảo đã thực hiện rõ chức năng này. Các bài dụ chỉ đã tinh tả và đề niên hiệu ở trước thì đóng ấn “Ngự tiền chi bảo” trên mỗi chữ “mỗ niên” ở dòng niên hiệu. Các lời dụ, chỉ biên ở đằng sau thì đóng “Ngự tiền chi bảo” trên chữ “Khâm thử”, còn các tập tấu có ngự bút châu phê thì đóng “Ngự tiền chi bảo” ở dưới châu phê đồng thời đóng ấn “Văn lý mật sát” vào nơi giáp trang của hai bản.

 

*

**

Đời Đồng Khánh đã tinh giảm chức quan và lại thuộc ở Nội các làm hai lần : đợt 1 – năm Đồng Khánh 1 (1886) và đợt 2 – năm Đồng Khánh 2 (1887). Từ đây trở đi Nội các giảm bớt vai trò trung tâm hành chính.

Năm Đồng Khánh nguyên niên (1885), các quan ở Nội các vì thấy ấn Quan phòng “Sung biện nội các sự vụ quan phòng” hình thức chỉ đơn giản làm kiểu tay quai, thế nhỏ và xấu, nét chữ Triện khắc mỏng và thời điểm này kiêng chữ húy “biện” 辨, nên tâu xin cho đúc Quan phòng mới bằng đồng hình thể đẹp hơn, núm hình sư tử ngồi. Mặt dấu khắc 8 chữ Triện “Sung lý nội các sự vụ quan phòng” 充 理 內 閣 事 務 關 防, đồng thời Nội các lại xin làm 1 kiềm nhỏ khắc 2 chữ “Nội các” 內 閣 . Sau đó các ấn đã được đúc và sử dụng.

Chúng tôi cũng đã in được dấu Kiềm “Nội các” trong Chư bộ vệ tấu tập đời Đồng Khánh nguyên niên. Dấu hình vuông kích thước 2,2×2,2cm khắc 2 chữ Triện “Nội các”, dấu đóng ở nơi giáp trang và chỗ sửa chữa (5).

Đến giữa năm Đồng Khánh 1(1886) các đại thần ở Viện Cơ mật tâu hạch tội của Nội các về việc làm trên cho rằng Nội các cố tình làm trái lệ cũ về hình thức của ấn, và lại đúc thêm kiềm nhỏ, như vậy khi phê phụng không biết đóng dùng thế nào. Dấu Quan phòng của Nội các chỉ dùng đóng vào dụ chỉ và bản lục sao ở 6 Bộ mà thôi, không được đem dùng cho Nha môn ở các tỉnh. Họ yêu cầu thu lại Quan phòng “Sung lý nội các sự vụ quan phòng” và kiềm nhỏ “Nội các” để hủy, theo mẫu cũ làm lại như xưa. Đồng Khánh đã nhất trí với các đại thần Cơ mật viện và phạt 3 viên quan Nội các là Cao Đệ, Phạm Phú Lâm và Nguyễn Văn Trung 9 tháng lương.

Những chi tiết này giải quyết cho chúng tôi điều thắc mắc về sự vắng mặt của dấu “Sung lý nội các sự cụ quan phòng” trong bảng sưu tập. Như vậy chúng tôi thấy rõ quy chế về việc làm và sử dụng ấn triện đến đời Đồng Khánh đã bị vi phạm song song với việc Đồng Khánh tinh giảm chức quan và lại điển không kiêng gì ở Nội các.

Ngày 2 tháng 5 năm 1935 Nội các đã được thay thế bằng Ngự tiền văn phòng do Bảo Đại thiết lập, chấm dứt 104 năm hoạt động.

 

Tác giả:  NGUYỄN CÔNG VIỆT

CHÚ THÍCH

(1) Hầu bảo tức đóng dấu ấn vàng.

(2) Dấu “Văn thư quan phòng” đóng trong quyển 18 trang 391 đời Minh Mệnh 7 – Châu bản.

(3) Dấu “Sung biện nội các sự vụ quan phòng” đóng trong quyển 46 trang 4. Đời Thiệu Trị 2 – Châu bản.

(4) Sung làm công việc Nội các gồm hai người trật nhị phẩm là Thị Lang lục Bộ. hoặc Chưởng viện học sĩ, Trực học sĩ vi Hàn lâm, hai người trật tứ phẩm lấy Thị độc học sĩ viện Hàn lâm.

(5) Kiềm dấu “Nội các” đóng trong quyển 1 – Đồng Khánh nguyên niên – Châu bản./.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.