Nghệ Thuật Xưa | Homepage
Họa sĩ Lê Phổ

Họa sĩ Lê Phổ

0 Comments 🕔28.Sep 2014

Vài nét về  họa sĩ Lê Phổ:

Lê Phổ sinh tại Hà Đông trong gia đình thế tộc, cha là kinh lược xứ Bắc kỳ Lê Hoan. Tuổi thơ của ông không hạnh phúc, khi lên ba thì mồ côi mẹ, lên tám thì mồ côi cha. Sống với chị dâu và anh trai, ông luôn phải chịu trách nhiệm về mọi rắc rối do những đứa cháu gây ra. Bà Vaux cho biết: “Ông không kể với con cái về tuổi thơ của mình, ông trầm lặng và sống nội tâm. Ông không nhớ gì về cha mình ngoại trừ việc biết cha mình hút thuốc phiện”.

Có năng khiếu hội họa từ nhỏ, nhưng đến năm 16 tuổi ông mới có cơ hội thể hiện khả năng và đam mê khi tham gia một trường họa ở Hà Nội. Năm 1925 là mốc quan trọng trong đời ông khi gặp họa sĩ, giáo sư người Pháp Victor Tardieu: Lê Phổ là một trong 10 sinh viên ưu tú khóa đầu tiên của trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ông được chính giáo sư hiệu trưởng Tardieu và giáo sư Joseph Inguimberty trực tiếp hướng dẫn. Với phương châm bảo tồn tính dân tộc trong giảng dạy, giáo sư Tardieu khuyến khích học trò vẽ tranh bằng chất liệu truyền thống. Bà Vaux nói: “Tardieu giống như cha tinh thần của Lê Phổ. Ông ngưỡng mộ và rất gần gũi với Tardieu. Tardieu đã đặt nền móng cho những thành công trong hội họa của ông”.

Giáo sư Victor Tardieu (ngồi) và sinh viên khóa đầu của trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương – họa sĩ Lê Phổ ở bìa trái

 

Năm 1928, Lê Phổ có tranh triển lãm lần đầu tiên tại Hà Nội cùng Vũ Cao Đàm và Mai Thứ. Sau khi tốt nghiệp, năm 1931, Lê Phổ phụ tá cho giáo sư Tardieu tham dự triển lãm đấu xảo thuộc địa tại Paris.  Nhận học bổng trường cao đẳng Mỹ thuật Paris năm 1932, ông đi khắp châu Âu, thăm các bảo tàng viện Bruges, Cologne và Florence, chiêm ngưỡng những tác phẩm hội họa thời Trung cổ và Phục hưng, tiếp xúc với những trường phái mới thời đó như lập thể, siêu thực, trừu tượng… Cuối cùng, ông tìm ra được những nét trùng hợp giữa hội họa cổ điển Tây phương và hội họa cổ điển Trung Quốc. Ông cũng đến Ai Cập và tiếp cận nền nghệ thuật cổ nước này.

Năm 1933, Lê Phổ về Việt Nam giảng dạy tại trường Mỹ thuật Đông Dương, sau đó chàng trai 26 tuổi ấy sang Bắc Kinh tìm hiểu hội họa Tống, Minh. Ông thăm Huế, vẽ chân dung vua Bảo Đại, hoàng hậu Nam Phương và trang trí nội cung Hoàng thành Huế năm 1935.

Năm 1937, ông sang Paris với tư cách giám đốc nghệ thuật khu vực Đông Dương của Triển lãm quốc tế và ông quyết định ở lại Pháp. Bà Vaux kể: “Lê Phổ yêu Pháp, yêu bảo tàng Louvre và các tác phẩm trưng bày ở đó. Ông luôn thấy Pháp như nhà mình”. Ông còn có những người bạn tâm giao Vũ Cao Đàm, Mai Thứ định cư tại Pháp và cùng sáng tác tại đây.

Năm 1938, lần đầu tiên Lê Phổ trưng bày tranh tại Paris, từ đó tham dự nhiều cuộc triển lãm tranh trên thế giới. Ông kết hôn với bà Paulette Vaux – phóng viên báo Time và Life, năm 1947. Ông liên tiếp vẽ và cống hiến cho đời nhiều tác phẩm quý đến cuối đời. Tác phẩm của ông được trưng bày ở bảo tàng d’Art Moderne ở Paris – Pháp, bảo tàng Oklahoma – Mỹ và trong nhiều sưu tập nghệ thuật tư nhân, phần lớn ở Mỹ. Tranh của ông cũng được trưng bày tại các viện bảo tàng nghệ thuật Singapore, Nhật Bản và tất nhiên, Việt Nam.

Hai giai đoạn nghệ thuật

Waldemar George, nhà phê bình nghệ thuật Pháp, từng viết về nhiều họa sĩ hàng đầu của thế kỷ 20 như Pablo Picasso, Maurice Utrillo, Fernand Leger, Juan Gris, Marc Chagall, Amadeo Modigliani… Năm 1970, trong một cuốn sách viết về Lê Phổ, ông gọi họa sĩ Việt này là “Họa sĩ siêu phàm” (Divine Painter), khi mô tả tác phẩm Lê Phổ sau khi ông tiếp cận nền hội họa phương Tây. Waldemar chia hội họa Lê Phổ thành hai giai đoạn và cả hai giai đoạn đều có sự kết hợp các ảnh hưởng Đông và Tây mà ông tiếp thu từ trường học và từ các chuyến đi thực tế.

 

 

Giai đoạn đầu tiên là với tranh lụa từ năm 1934 – 1945, đậm nét cổ điển, phong cách Trung Quốc. Lê Phổ dùng sắc đậm, lạnh, màu nguyên chất. Những bức nổi tiếng là Thiếu phụ ngồi, Chim ngói, chịu ảnh hưởng hội họa đời Tống, với đường nét uyển chuyển, mềm mại. Không gian phẳng nét bút tinh vi, mong manh mà lạnh lùng, tạo không khí thuần khiết, ẩn chứa dung sắc xã hội Việt Nam đầu thế kỷ. Những bức Mẹ con, Thiếu nữ và hoa lan, Hai chị em, Thiếu nữ và hoa hồng, Chải đầu… có chút thay đổi, khi ông dung hòa hội họa Trung Quốc và Ý. Nét bút thanh tao, phụ nữ trong tranh trang nghiêm, dáng dấp thiên thần nhưng buồn và huyền bí. Dù gặp gỡ hội họa Ấn tượng ngay từ khi vào trường mỹ thuật, nhưng mãi đến những năm 1940, Lê Phổ mới thực sự bỏ mọi mực thước của trường phái cổ điển để bước vào trường phái ấn tượng.

Giai đoạn thứ hai là thời kỳ lãng mạn với tranh sơn dầu từ những năm 1950. Waldemar nhận xét, giai đoạn này, phong cách của Lê Phổ có sự kết hợp hài hòa cái hồn Trung Hoa với trường phái ấn tượng. Nét bút của ông đầy tự tin với những hiểu biết chín muồi và thấm nhuần những tinh hoa nghệ thuật hội họa Đông -Tây. “Những con đường của châu Á và châu Âu giao thoa, nghệ thuật phương Đông và nghệ thuật phương Tây mở ra một cuộc đối thoại thân tình”, Waldemar viết.

Hình ảnh phụ nữ xuất hiện xuyên suốt trong tác phẩm của ông. Corinne de Menonville, trong cuốn Những tác phẩm hội họa Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, nhận xét: “Ở giai đoạn đầu, người phụ nữ (trong tranh Lê Phổ) thường mỏng manh, e ấp, khuôn mặt trái xoan, có ánh sáng tạo hiệu ứng cho hồn tranh. Họ đều toát nên sự trang nhã, nhẹ nhàng, duyên dáng, lịch thiệp. Với tranh lụa, màu sắc nguyên chất và đậm sắc thái tạo nên khung cảnh lãng mạn. Giai đoạn tiếp theo, tranh sơn dầu vẫn đặt phụ nữ là tâm điểm, nhưng có thêm những cảm giác về tự do qua cử chỉ và màu sắc. Tranh lụa, người vẽ mất nhiều thời gian, cần sự tinh tế và tỉ mỉ, trong khi tranh sơn dầu, người nghệ sĩ được phép sáng tạo hơn với nhiều cử động và mức độ của màu sắc. Ảnh hưởng bởi trường phái ấn tượng, các tác phẩm thời gian này thể hiện sự tự do, tính hoa mỹ, hân hoan trong ánh sáng, nhịp nhàng trong nét cọ”. Còn Waldemar thì viết: “Một con thuyền lướt giữa những bông súng, những cô gái ẩn hiện hái trái cây trong vườn địa đàng, họ thật kiểu cách và được nhớ đến bởi sự duyên dáng, niềm vui của cuộc sống phát ra từ tất cả, trong tiết trời xuân vô tận, những thiếu nữ mảnh mai đang dùng bữa trưa trên một hiên nhà, những đĩa trái cây trên bàn phủ khăn, bình đựng đầy hoa dại: thế giới của Lê Phổ là một thiên đường trên trái đất”.

Tác phẩm “Cô gái với khăn quàng cổ xanh” của họa sĩ Lê Phổ.

Trong suốt cuộc đời, Lê Phổ thường nói về những tình cảm sâu đậm của mình với quê hương, nơi ông sinh ra và nhiều thành viên trong gia đình ông đang sinh sống. Trong tranh Lê Phổ, những đặc trưng Việt Nam, Á Đông được tái hiện qua hình ảnh những người phụ nữ hòa mình với tự nhiên và trẻ thơ. Một hình ảnh khác thường xuất hiện là những bông hoa. Waldemar nhận xét Lê Phổ thể hiện nỗi nhớ quê hương bằng hàng ngàn bông hoa. Bà Vaux tâm sự: “Ông yêu hoa, và hoa luôn xuất hiện trong tranh của ông ở cả hai giai đoạn trong tranh lụa và sơn dầu”. Bà từng chụp những tấm hình khi chồng đang say sưa vẽ hoa. Khi ông bị tai nạn năm 1991 phải nằm viện năm tháng, sau mỗi lần thăm ông về, bà lại đứng trước bức tranh hoa treo trong phòng khách mà khóc.

Bức thuộc sở hữu của Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia Singapore

Năm 1964, ông ký hợp đồng với phòng tranh Wally Findlay ở Mỹ, đại diện giới thiệu, quảng bá tác phẩm của ông trên thị trường Mỹ và châu Âu cho đến cuối những năm 1980. Tranh của ông được đưa vào nhiều cuộc đấu giá, tạo động lực giúp ông sáng tác nhiều hơn. Khoảng mười năm qua, tranh của ông được giới thiệu tại Christie’s và Sotheby’s, và số người tìm kiếm sưu tầm tranh của ông cũng tăng lên. Thông thường, một nghệ sĩ tài năng thường được những nhà sưu tầm trong nước đánh giá cao và tìm kiếm. Tuy nhiên, số lượng người Việt mê và sưu tầm tranh Lê Phổ mới tập trung nhiều ở giới Việt kiều. Hiện những người tìm kiếm tác phẩm của ông là giới sưu tập và kinh doanh tác phẩm nghệ thuật châu Âu và Á như Anh, Mỹ, Úc, Singapore, Indonesia, Hong Kong. Tranh ông được định giá cao tại các cuộc bán đấu giá và được rao bán cùng tác phẩm của những tên tuổi lớn của châu Á, châu Âu. Giá các tác phẩm của ông ngày một tăng, như bức sơn dầu trên lụa Thiếu nữ hái hoa được bán với giá 339.797 USD tại Hong Kong vào năm trước.

Giá tranh lê phổ ?

Trong cac cuộc đấu giá tranh tại Singapore 2008, tranh Lê Phổ tuy rớt giá, nhưng bức cao nhất trong số 4 bức được bán vẫn đạt trên 33 ngàn USD. Tranh Lê Phổ hiện giờ ở đâu? – câu hỏi tưởng chừng đơn giản, nhưng xét lại, cũng không dễ trả lời.

Trong suốt cuộc đời hội họa của mình, ông vẽ thuộc diện nhiều nhất trong các họa sĩ thành danh của Việt Nam thời kỳ đầu, với hàng ngàn bức. Vậy nhưng, hiện tại ở trong nước, theo thông tin từ các nhà sưu tập, kinh doanh gallery và giới mua bán tranh tự do ước đoán thì còn không quá 20 tác phẩm, nếu không tính khoảng 15 tác phẩm được Lê Phổ tặng cho các bảo tàng. Đó là chưa nói, tác phẩm của Lê Phổ giữ vị thế như thế nào trong nền hội họa Việt Nam, thì càng khó trả lời.

Tranh Lê Phổ đấu giá tại nhà Sotheby’s ở Hongkong

Nói về danh họa Lê Phổ (1907-2001), nhà phê bình mỹ thuật Nguyên Hưng nhận định: “Đứng ở góc độ người làm phê bình, tôi không đánh giá cao đóng góp của Lê Phổ trong nghệ thuật. Còn việc tranh Lê Phổ đang dẫn đầu bảng trên thị trường nghệ thuật lâu nay, theo tôi, cơ bản, vì chúng đang ở trên một kênh thương mại được điều hành tốt”.

Đỉnh điểm về giá có lẽ thuộc về tác phẩm Nostalgie (Hoài cố hương, 60,5 x 46cm, 1938) được nhà đấu giá Sotheby’s đưa ra năm 2006 tại Singapore, với mức giá sàn từ 181.820 đến 303.030 USD, và kết quả bán được trên mức sàn một ít. Trước đó 1 năm, tại Hong Kong, nhà Christie’s đã ra giá cho tác phẩm À l’approche du Têt (Sắp Tết, 60 x 47cm, 1937) từ 76.900 đến 102.600USD và cũng bán với mức cao hơn giá sàn.

Tác phẩm “Hoài Cố Hương (tranh)” có giá bán khoảng 360.000 Đô La Singapore (tương đương 222.325 USD). Bức tranh thể hiện cảnh một người phụ nữ mặc áo dài thắt ngang lưng đang ngắm nghía những bông hoa nhài trắng muốt với vẻ uyển chuyển duyên dáng. Kèm theo đó, người xem còn cảm nhận được sự chia xa và những điều cầu nguyện cho tình yêu. Các đường cọ trơn và tinh tế được họa sĩ sử dụng đã tôn lên vẻ bình yên về mặt không gian. Màu sắc trong tranh là sự kết hợp khác kiểu giữa màu xanh lá cây jadeite, màu trắng và màu đen kèm theo phương pháp làm mờ các lớp vẽ của bột màu cũng như điều kiện bảo quản nguyên sơ đã làm bức tranh trở nên vô cùng quý giá

Cũng nhà Christie’s, họ đang chuẩn bị cho mùa Xuân 2009 tại Hong Kong với bức Mẹ và các con với giá bán khoảng 130.000USD. Năm vừa rồi, bức Cho chim ăn của Lê Phổ đã được bán với giá gần 100.000USD…

Tại sao giá tranh của Lê Phổ cao nhất trong các họa sĩ Việt Nam hiện nay? Có nhiều lý do, theo Lê Thái Sơn (chủ Thai Son Fine Arts Gallery & Collection) thì từ năm 1963, gallery Wally Findlay (www.wallyfindlay.com) ở Mỹ đã trở thành nhà sưu tập gần như độc quyền về tranh Lê Phổ, họ có cả ngàn bức. Chính nơi đây đã gần như quản lý hết đầu ra của họa sĩ này, như trên ArtNet trong một vài năm qua đã rao bán gần 400 bức, rồi các nhà đấu giá Sotheby’s, Christie’s, Larasati, Borobudur, Mainichi, Beijing Poly International…; các gallery như Romanet (Paris), Florence Art (Ý), Simyo (Hàn Quốc), Art Forum, Ode To Art (Singapore), La Luna, Thavibu (Thái Lan)… đều có chú ý đặc biệt đến Lê Phổ, mà nguồn ra chủ yếu từ Wally Findlay. “Khi nhìn vào hệ thống chuyên nghiệp và trải rộng như thế này, chắc chúng ta cũng hình dung được tại sao tranh Lê Phổ thu hút được người mua ở khắp thế giới” – Lê Thái Sơn nói thêm.
Khi gửi E-mail hỏi từ lý do nào mà Wally Findlay chú ý đến tranh Lê Phổ, một đại diện về quảng cáo và mua bán của họ trả lời rằng vì đây là họa sĩ thời kỳ đầu của một nền mỹ thuật hiện đại, nhưng lại ít được chú ý, ngay cả ở Việt Nam, cho nên càng lưu giữ lâu thì cơ hội nâng giá càng lớn. Họ cũng tiết lộ cho biết rằng nhà sưu tập Tuấn Phạm ở California đã mua rất nhiều tác phẩm của Lê Phổ. Một gallery ở San Francisco có tên George Belcher (www.gbgallery.com/Asian.htm) cũng làm những trang riêng về Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, và nhiều họa sĩ nổi tiếng của Việt Nam.

Bức “Thiếu nữ dâng trà – Elegant Lady Pouring Tea”. Lê Phổ đã tập trung vào hai chủ thể chính đó là thiếu nữ và trà mà các chủ thể này tạo nên sự thể hiện một cách tập trung, hoàn hảo về nghi lễ mang đầy tính nghệ thuật trình bày là pha (dâng) trà.

Similar Articles

Tượng giải trãi bằng vàng thời Minh Mang

Tượng giải trãi bằng vàng thời Minh Mang 0

Tượng bằng vàng thời Nguyễn rất hiếm. Suốt 30 năm nghiên cứu, tôi chưa hề

Đồ sứ xanh trắng Việt Nam tại bảo tàng nước ngoài

Đồ sứ xanh trắng Việt Nam tại bảo tàng nước ngoài 0

Nghệ Thuật Xưa xin giới thiệu với các bạn một vài món đồ sứ xanh

Một vài tác phẩm việt nam trong phiên đấu giá nghệ thuật thế kỷ 20 tại sàn Christie’s ngày 27 – 28 tháng 5 năm 2017

Một vài tác phẩm việt nam trong phiên đấu giá nghệ thuật thế kỷ 20 tại sàn Christie’s ngày 27 – 28 tháng 5 năm 2017 0

Femmes Vietnamiennes (Vietnamese women) JOSEPH INGUIMBERTY (FRANCE, 1896-1971) signed and dated 'INGUIMBERTY, 1935' (lower left) oil on canvas 198.5

Những món đồ độc nhất vô nhị của vị vua cuối cùng của Việt Nam.

Những món đồ độc nhất vô nhị của vị vua cuối cùng của Việt Nam. 0

Bảo Đại, vị vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam, từng mang

Triển lãm bộ sưu tập tranh hội họa Việt Nam hiện đại thời kỳ hậu chiến Albert I. Goodman tại Chicago.

Triển lãm bộ sưu tập tranh hội họa Việt Nam hiện đại thời kỳ hậu chiến Albert I. Goodman tại Chicago. 0

Ngày mùng 6 tháng 4 vừa qua tại Chicago, quỹ John David Mooney đã tổ

About Author

No Comments

No Comments Yet!

No one have left a comment for this post yet!

Write a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Cổ vật Việt Nam tại bảo tàng nước ngoài

Tiền cổ Việt Nam

Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc

Bảo tàng Guimet

Tư liệu gốm sứ thời Tống

Tư liệu gốm sứ thời Minh

Tư liệu gốm sứ thời Thanh